›

Thực trạng và giải pháp bảo vệ môi trường hiện nay?

Cập nhật lần cuối lúc 16:47 ngày 09/11/2012 bởi

Cho hỏi thực trạng cũng như một số giải pháp bảo vệ môi trường hiện nay?



Hoidap-tinmoi - 1 year ago
* Ô nhiễm vẫn gia tăng
Cụ thể như ô nhiễm chất hữu cơ trong môi trường nước vẫn không giảm, nhất là ô nhiễm ở 3 lưu vực sông gồm sông Cầu, sông Nhuệ-Đáy và sông Đồng Nai. Bên cạnh đó, môi trường nước mặt ở đa số các đô thị và nhiều lưu vực sông của nước ta đều bị ô nhiễm chất hữu cơ. Các ao, hồ, kênh, rạch trong nội thành, nội thị, trị số hàm lượng các chất ô nhiễm của các thông số đặc trưng ô nhiễm hữu cơ đều vượt trị số giới hạn tối đa cho phép đối với các nguồn nước loại B từ 2-6 lần. Hàm lượng chất hữu cơ và Colifom ở hầu hết các dòng sông chảy qua đô thị và các khu công nghiệp đều vượt giới hạn tối đa cho phép, nhiều nơi cao hơn tới 2-3 lần.
Nguyên nhân ô nhiễm các dòng sông là do nguồn nước thải từ các khu, cụm công nghiệp, các cơ sở sản xuất, nước thải sinh hoạt, dịch vụ ở các đô thị xả ra không qua xử lý, hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu. Kể cả nước thải từ hoạt động khoáng sản ở đầu nguồn gây nên.
Cho đến nay trên địa bàn cả nước cũng chưa có một đô thị nào được công nhận là đô thị xanh-sạch (nước sạch, không khí sạch, đất sạch). Riêng thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội bị ô nhiễm chất hữu cơ trong môi trường nước mặt và nhiễm bụi trong môi trường không khí đứng vào hàng nhất, nhì trên thế giới. Ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm chất thải rắn cộng thêm nạn úng ngập ngày càng gia tăng ở các đô thị, gây thiệt hại lớn về kinh tế, sức khỏe cộng đồng và làm cho tình trạng ô nhiễm môi trường trở nên trầm trọng.
Song điều nan giải nhất hiện nay đó là ô nhiễm môi trường do các khu, cụm công nghiệp gây ra. Chỉ tính riêng 249 khu công nghiệp được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, chỉ có 50% khu công nghiệp đang hoạt động là xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung (kể cả các hệ thống chưa hoạt động hiệu quả). Từ đó dẫn đến 70% trong tổng số hơn 1 triệu m3 nước thải/ngày từ các khu công nghiệp này xả thẳng ra các nguồn tiếp nhận, làm ô nhiễm môi trường nước mặt trên diện rộng.
Mặt khác, chất thải rắn phát sinh từ các khu, cụm công nghiệp ngày càng lớn về số lượng, đa dạng hơn về tính độc hại, nhưng tỷ lệ thu gom, phân loại và xử lý đúng kỹ thuật vệ sinh môi trường, đặc biệt đối với việc vận chuyển, đăng ký nguồn thải còn nhiều bất cập. Rất ít các chủ cơ sở sản xuất thực hiện nghiêm túc các cam kết bảo vệ môi trường mà họ đã ký; đồng thời các cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường chưa thực hiện kiểm tra, thanh tra môi trường một cách triệt để.
Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm ở các làng nghề tồn tại từ rất lâu nhưng cho đến nay vẫn chưa khắc phục được tận gốc, do công nghệ sản xuất tại những nơi này còn rất lạc hậu và cũng chưa có cơ quan nào chủ trì quản lý môi trường ở các làng nghề. Cộng thêm ô nhiễm nông nghiệp do sử dụng không hợp lý phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật tùy tiện, tràn lan (riêng vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật mỗi năm thải ra lên tới gần 20.000 tấn), nên ngày càng “đầu độc” nghiêm trọng môi trường đất và nước ở địa bàn nông thôn-nông nghiệp.
Theo báo cáo của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam: Hàm lượng dầu mỡ trong nước biển ven bờ ngày càng tăng và đã tới mức báo động. Đặc biệt là ở các khu vực Cửa Lục gần cầu Bãi Cháy của tỉnh Quảng Ninh; các vùng ven biển miền Trung. Tại khu vực ven bờ phía Nam, hàm lượng dầu mỡ trong nước biển cũng gia tăng năm sau cao hơn năm trước.
 
* Suy giảm nghiêm trọng đa dạng sinh học
Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất các hệ sinh thái không hợp lý và thiếu khoa học, khai thác quá mức và sử dụng không bền vững tài nguyên sinh vật, ô nhiễm môi trường, tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu…đang làm suy giảm nghiêm trọng đa dạng sinh học ở Việt Nam.
Trên thực tế, nhờ thực hiện Chương trình 5 triệu ha rừng nên tổng diện tích rừng cả nước có tăng, song rừng nguyên sinh có giá trị cao về đa dạng sinh học chỉ còn khoảng 0,57 triệu ha, được phân bố rải rác chiếm khoảng 8% tổng diện tích rừng. Còn các hệ sinh thái đất ngập nước, điển hình là rừng ngập mặn cũng bị tàn phá và chuyển đổi mục đích sử dụng đất rất lớn. Vì vậy, tổng diện tích rừng ngập mặn còn khoảng 171.000ha, giảm 63% so với năm 1943.
Việt   Nam cũng đang phải đối phó với tình trạng suy thoái các hệ sinh thái biển, đặc biệt là đối với các rạn san hô và thảm cỏ biển. Hệ sinh thái rạn san hô bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng, với hơn 80% số rạn hiện thuộc tình trạng xấu. Tương tự, tổng diện tích thảm cỏ các thảm cỏ biển đã giảm từ 40-60% so với thời kỳ trước năm 1990.
Về mức độ suy giảm các loài trong tự nhiên, Việt Nam xếp vào nhóm 15   nước hàng đầu thế giới về suy giảm số loài thú; nhóm 20 nước hàng đầu về suy giảm số loài chim; nhóm 30 nước hàng đầu về suy giảm các loài thực vật lưỡng cư. Còn các loài sinh vật hoang dã của Việt   Nam   trong giai đoạn 2005-2010 không chỉ tăng về số lượng loài bị đe dọa, mà còn tăng cả về mức độ đe dọa. Nhiều loài được xem là đã tuyệt chủng hoặc tuyệt chủng ngoài tự nhiên. Nhiều loài động vật và thực vật đã chuyển từ nhóm sắp nguy cấp sang nhóm nguy cấp và rất nguy cấp.
Nhiều nguồn gen hiếm quý của Việt   Nam   chưa được bảo tồn hợp lý, nhất là đối với nguồn gen vật nuôi, cây trồng truyền thống của địa phương. Một số giống cây truyền thống bị mai một do sự cạnh tranh của những giống cây trồng mới. Nhiều giống vật nuôi hiện nay bị pha tạp, hoặc đã mất hoàn toàn hay giảm đáng kể về số lượng.
Thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo
Theo Monre

Nguồn: Sưu tầm - Tin mới/Người đưa tin

Đánh giá của bạn về câu trả lời:


Hiện có: 0 đánh giá. Điểm đánh giá trung bình là: 0
Từ khóa liên quan : thực trang bảo vệ môi trường
HÃY NHẬP CÂU TRẢ LỜI CỦA BẠN :

Bình luận :